Chinh Phụ Ngâm và tìm hiểu thể thơ Song Thất Lục Bát - Diễn đàn Eva, kinh nghiệm hay cho phụ nữ
Góp ý cho diễn đàn Eva.vn
  #1   Ban this user!
Củ 26-01-2010 , 09:40 PM
Avatar của Laolamvuon
Học sinh cấp 2

Thành viên thứ: 99535
Tham gia ngày: 23.10.2009
Nghề nghiệp: Tưới hoa
Bài gửi: 1,017
Điểm: -7,916
Mặc định Chinh Phụ Ngâm và tìm hiểu thể thơ Song Thất Lục Bát

Chinh Phụ Ngâm Khúc được Ðặng Trần Côn tiên sinh sáng tác bằng chữ Nho nói lên tâm sự của một người vợ có chồng đang dong ruổi nơi biên thùy trong thời loạn lạc. Cái hoài bảo chờ chồng, cái cô đơn lạnh lẽo, cái lòng nhớ thương và mong chờ ngày trở về trong chiến thắng vinh quang được tác giả đưa vào một áng thơ làm rung động lòng người.

Chinh Phụ Ngâm Khúc, vì nguyên tác là một bản bằng chữ Nho, viết theo thể thơ Trường Ðoản Cú nên không được phổ thông trong dân gian. Nhưng áng thơ này lại rất phổ thông trong bản diễn dịch ra chữ Nôm của Hồng Hà nữ sĩ Ðoàn Thị Ðiểm (người cùng thời với tác giả).
Bà Ðoàn Thị Ðiểm đã đem Chinh Phụ Ngâm Khúc vào lòng dân gian bằng bảng dịch ra chữ Nôm bằng thể thơ song thất lục bát dài 412 câu mà hầu hết ai cũng đã có dịp đọc qua.
Ðoàn Thị Ðiểm, dịch giả khúc Chinh Phụ Ngâm, hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, sinh vào đầu thế kỷ thứ 18, đời Hậu Lê.

Hồng Hà nữ sĩ là người làng Hiếu Phạm huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, em gái ông Tiến sĩ Tuyết Am Ðoàn Luân.

Kén chồng mãi tới năm 30 tuổi, bà mới lấy lẽ ông Tiến sĩ Hạo Hiên Nguyễn Kiều đương tại chức Thượng Thư. Ông là người huyện Từ Liêm, nay là phủ Hoài Ðức, Hà Ðông. Ông bà gặp nhau trong văn chương nên kính đãi nhau thật là tương đắc và thường có những cuộc nhàn đàm ngâm vịnh cùng các bậc văn hữu đồng thời.

Tư chất rất thông minh, ngay khi mới sáu, bảy tuổi bà đã làu thông kinh sử. Ðến năm 15 tuổi, tiếng tăm bà bất đầu lừng lẫy trên văn đàn nước nhà. Một áng Chinh Phụ Ngâm diễn nôm cũng đủ nói hết sự nghiệp văn chương của bà lỗi lạc đến bực nào.

---------------------------------------

Thơ song thất lục bát (7 + 7 + 6 + 8) là một thể văn vần (thơ) đặc thù của Việt Nam, là một dạng biến thể của Lục bát kết hợp với thơ 7 chữ theo Đường luật. Tác phẩm dịch thơ Nôm Chinh Phụ Ngâm đã được viết trong thể thơ này.

Thơ song thất lục bát gồm có 2 câu 7 chữ và 1 câu 6 chữ, 1 câu 8 chữ.

Chữ cuối câu thất trên vần với chữ thứ 5 câu thất dưới, chữ cuối câu thất dưới vần với chữ cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với chữ thứ 6 câu bát. Và chữ cuối câu bát vần với chữ thứ 5 (đôi khi chữ thứ 3) của câu thất tiếp theo.

Bảng sơ đồ :
x x t x b x T
x x t x T x B
x b x t x B
x b x t x B t B

x x t x B X T
x x b x T x B
x b x t x B
x b x t x B t B

Chú thích :
x : Không bắt buộc
t : vần Trắc, với các dấu thanh : Hỏi, ngã, sắc, nặng
b : Vần Bằng, với các dấu thanh : Bằng hay huyền
Chữ in hoa T, B : Chữ phải giữ vần

Trích đoạn Chinh Phụ Ngâm làm minh hoạ:

"Sương đầu núi, buổi chiều như giội,
Nước lòng khe, nẻo suối còn sâu.
Não người áo giáp bấy lâu,
Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.

Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ?
Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?
Tưởng chàng rong ruổi mấy niên,
Chẳng nơi Hãn hải thì miền Tiêu quan.

Ðã trắc trở đòi ngànhổ
Lại lạnh lùng những chỗ sương phong,
Lên cao trông thức mây lồng,
Lòng nào mà chẳng động lòng bi thương."

(Sưu tầm)[RIGHT][B]Nguồn[/B]: Diendan.Eva.Vn[/RIGHT].


Kho đồ của Laolamvuon
Thông noel Bánh kem_003 Sinhtocarot Hamburger Noel_01 gối quả bí


================================================== ======

thay đổi nội dung bởi: Laolamvuon, 26-01-2010 lúc 10:13 PM .

Được cảm ơn 4138 lần tại 940 bài viết.
 
                    
Có 3 cảm ơn bài viết và gửi lời cảm ơn đến bạn Laolamvuon:
lan nguyen (27-01-2010), ngovangxonxao75 (27-01-2010), Xa Roi Xuan Oi (05-04-2010)
  #2   Ban this user!
Củ 26-01-2010 , 09:43 PM
Avatar của Laolamvuon
Học sinh cấp 2

Thành viên thứ: 99535
Tham gia ngày: 23.10.2009
Nghề nghiệp: Tưới hoa
Bài gửi: 1,017
Điểm: -7,916
Mặc định Chinh Phụ Ngâm

412 câu thơ Chinh Phụ Ngâm viết theo thể song thất lục bát, ta có thể chia ra làm 13 phần:

- Phần 1:
Nước nhà đang cơn biến loạn, làm trai phải tạm gác việc nhà để làm bổn phận với đất nước theo tiếng gọi của non sông. Làm gái đành tạm nhận lấy kiếp sống truân chuyên.

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
Xanh kia thăm thẳm tầng trên.
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này!

Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt.
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Chín tầng gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh..

Nước thanh bình ba trăm năm cũ,
Áo nhung trao quan vũ, từ đây;
Sứ trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng, niềm tây sá nào.

Ðường dong ruổi lưng đeo cung tiễn.
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.
Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.



- Phần 2:
Giờ phút lên đường thân chinh ra biên ải. Người trai vốn giòng hào kiệt, với ý chí kiên cường, quyết đem thân mà trả nợ núi sông.

Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt.
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng.
Thước gươm đã quyết chẳng dong giặc trời,

Chí làm trai dậm nghìn da ngựa
Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao,
Giã nhà, đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu

Ngòi đầu cầu, nước trong như lọc,
Ðường bên cầu, cỏ mọc còn non.
Ðưa chàng lòng dặc dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền

Nước trong chảy, lòng phiền chẳng rửa.
Cỏ xanh thơm, dạ nhớ khó quên.
Nhủ rồi nhủ lại cầm tay.
Bước đi một bước giây giây lại dừng.

Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa ngoài cõi Thiên san;
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.

Săn Lâu lan rằng theo Giới tử;
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba.
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.

- Phần 3:
Cảnh chia tay ngậm ngùi trong lòng người chinh phụ. Có lẽ người đi ít buồn hơn kẻ ở.


Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay!
Hà lương chia rẽ đường này,
Bên đường trông lá cờ bay ngùi ngùi.

Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu
Kỵ sau còn khuất nẻo Tràng dương
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?

Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng.
Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.
Dấu chàng theo lớp mây đưa.
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.

Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
Ðoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn mầu mây biếc, trải ngần núi xanh

Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãi trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một mầu.
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?

- Phần 4:
Những tháng ngày gian khổ của chinh phu từ khi đi vào nơi gió cát.

Chàng từ khi vào nơi gió cát,
Ðêm chăng này nghỉ mát phương nao?
Xưa nay chiến địa nhường bao!
Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu!

Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn,
Dòng nước sâu, ngựa nản chân bon.
Ôm yên, gối trống đã chồn,
Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh.

Nay Hán xuống Bạch thành đóng lại,
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua.
Hình khe thế núi gần xa,
Ðứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.

Sương đầu núi, buổi chiều như giội,
Nước lòng khe, nẻo suối còn sâu.
Não người áo giáp bấy lâu,
Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.

Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ?
Mặt chinh phu ai vẽ cho nên?
Tưởng chàng rong ruổi mấy niên,
Chẳng nơi Hãn hải thì miền Tiêu quan.

Ðã trắc trở đòi ngàn xà hổ
Lại lạnh lùng những chỗ sương phong,
Lên cao trông thức mây lồng,
Lòng nào mà chẳng động lòng bi thương.


(Sưu tầm)[RIGHT][B]Nguồn[/B]: Diendan.Eva.Vn[/RIGHT].


Kho đồ của Laolamvuon
Thông noel Bánh kem_003 Sinhtocarot Hamburger Noel_01 gối quả bí


================================================== ======

thay đổi nội dung bởi: Laolamvuon, 26-01-2010 lúc 10:06 PM .

Được cảm ơn 4138 lần tại 940 bài viết.
 
                    
Có 2 cảm ơn bài viết và gửi lời cảm ơn đến bạn Laolamvuon:
lan nguyen (27-01-2010), ngovangxonxao75 (27-01-2010)
  #3   Ban this user!
Củ 26-01-2010 , 09:46 PM
Avatar của Laolamvuon
Học sinh cấp 2

Thành viên thứ: 99535
Tham gia ngày: 23.10.2009
Nghề nghiệp: Tưới hoa
Bài gửi: 1,017
Điểm: -7,916
Mặc định Chinh Phụ Ngâm và tìm hiểu thể thơ Song Thất Lục Bát (tiếp theo)

- Phần 5:
Lòng hy sinh của người trai nơi chiến trường rất nhiều ngay cả việc đem thân đền nợ nước, da ngựa bọc thây.

Chàng từ sang đông nam khơi nẻo
Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu?
Những người chinh chiến bấy lâu,
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây

Nức hơi mạnh ơn dày từ trước;
Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu?
Non Kỳ mộ chỉ trăng treo,
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?

Dấu binh lửa, nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
Phận trai: già ruổi chiến trường,
Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.

Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ.
Ba thước gươm, một cỗ nhung yên.
Xông pha gió bãi trăng ngàn,
Tên treo đầu ngựa, giáo lan mặt thành.

Áng công danh trăm đường rộn rã,
Những nhọc nhằn nào đã nghỉ ngơi,
Nỗi lòng biết tỏ cùng ai?
Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.

-Phần 6:
Người chinh phụ buồn cho cái kiếp sống cô đơn của mình nhưng trong lòng vẫn chan chứa nỗi hẹn hò của ngày về gặp gỡ.

Trong cửa này, đã đành phận thiếp,
Ngoài mây kia, há kiếp chàng vay?
Những mong cá nước vui vầy,
Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.

Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ
Chàng há từng học lũ vương tôn?
Cố sao cách trở nước non,
Khiến người thôi sớm, thôi hôm những sầu.

Chàng phong lưu đương chừng niên thiếu,
Sánh nhau cùng gian dối chữ duyên;
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên
Quan sơn để cách hàn huyên cho đành?

Thuở lâm hành, oanh chưa bén liễu.
Hỏi ngày về, ước nẻo oanh ca
Nay quyên đã giục oanh già.
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo,

Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông,
Nay đào đã quyến gió đông
Phù dung lại đã bên sông bơ xờ.

Hẹn cùng ta: Lũng Tây nham ấy,
Sớm đã trông nào thấy hơi tăm?
Ngập ngừng lá rụng cành trâm,
Buổi hôm nghe dậy tiếng cầm xôn xao.

Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ.
Chiều lại tìm nào có tiêu hao:
Ngập ngừng gió thổi chéo bào
Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông.

Tin thường lại người không thấy lại,
Hoa dương tàn đã trải rêu xanh.
Rêu xanh mấy lớp xung quanh,
Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ!

Thư thường tới, người chưa thấy tới,
Bức rèm thưa lần dãi bóng dương.
Bóng dương mấy buổi xuyên ngang.
148- Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai?

-Phần 7:
Dù chồng đã đi xa, ngoài biên ải, chinh phụ vẫn làm tròn bổn phận của người ở lại.

Thử tính lại diễn khơi ngày ấy.
Tiền sen này đã nẩy là ba.
Xót người lần lữa ải xa,
Xót người nương chốn Hoàng hoa dặm dài.

Tình gia thất nào ai chẳng có,
Kìa lão thân khuê phụ nhớ thương.
Mẹ già phơ phất mái sương,
Con thơ măng sữa, vả đương phù trì.

Lòng lão thân buồn khi tựa cửa
Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,
Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân

Nay một thân nuôi già, dạy trẻ,
Nỗi quan hoài mang mể biết bao.
Nhớ chàng trải mấy sương sao
Xuân từng đổi mới, đông nào có dư!

Kể năm đã ba tư cách diễn
Mối sầu thêm ngìn vạn ngổn ngang,
Ước gì gần gũi tấc gang,
Giãi niềm cay đắng để chàng tỏ hay.

Theo cung Hán thuở ngày xuất giá
Gương lầu Tần, dấu đã soi chung.
Cậy ai mà gửi tới cùng,
Ðể chàng thấu hết tấm lòng tương tư.

Nhẫn đeo tay mọi khi ngắm nghía,
Ngọc cài đầu thuở bé vui chơi.
Cậy ai mà gửi tới nơi?
Ðể chàng trân trọng dấu người tương thân.

-Phần 8:
Vắng tin chồng đã lâu, chinh phụ cảm thấy lòng mình dâng lên nỗi lo âu.

Trải mấy xuân tin đi tin lại,
Tới xuân này tin hãy vắng không.
Thấy nhàn luống tưởng thư phong.
Nghe hơi sương, sắm áo bông sẵn sàng.

Gió tây nổi, không đường hồng tiện.
Xót cõi ngoài tuyết quyến, mưa sa.
Màn mưa trướng tuyết xông pha,
Nghĩ thêm lạnh lẽo kẻ ra cõi ngoài.

Ðề chữ gấm phong thôi lại mở.
Gieo bói tiền tin dở còn ngờ.
Trời hôm tựa bóng ngẩn ngơ,
Trăng khuya nương gối bơ phờ tóc mai.

Há như ai hồn say bóng lẫn,
Bỗng thơ thơ thẩn thẩn như không.
Trâm cài, xiêm dắt thẹn thùng,
Lệch vừng tóc rối, lỏng vòng lưng eo.

Dạo hiên vắng, thầm gieo từng bước.
Ngoài rèm thưa rủ, thác đòi phen.
Ngoài rèm, thước chẳng mách tin,
Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?

Ðèn có biết, nhường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương,

Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khắc trời đằng đẵng bấy niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền bể xa.

Hương gượng đốt, hồn đà mê mải,
Gương gượng soi, lệ lại chứa chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng,

Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên,
Non Yên dù chẳng tới miền.
Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời

(sưu tầm)[RIGHT][B]Nguồn[/B]: Diendan.Eva.Vn[/RIGHT].


Kho đồ của Laolamvuon
Thông noel Bánh kem_003 Sinhtocarot Hamburger Noel_01 gối quả bí


================================================== ======

thay đổi nội dung bởi: Laolamvuon, 26-01-2010 lúc 10:09 PM .

Được cảm ơn 4138 lần tại 940 bài viết.
 
                    
Có 2 cảm ơn bài viết và gửi lời cảm ơn đến bạn Laolamvuon:
lan nguyen (27-01-2010), ngovangxonxao75 (27-01-2010)
  #4   Ban this user!
Củ 26-01-2010 , 09:49 PM
Avatar của Laolamvuon
Học sinh cấp 2

Thành viên thứ: 99535
Tham gia ngày: 23.10.2009
Nghề nghiệp: Tưới hoa
Bài gửi: 1,017
Điểm: -7,916
Mặc định Chinh Phụ Ngâm và tìm hiểu thể thơ Song Thất Lục Bát (tiếp theo)

- Phần 9:
Tâm trạng người chinh phụ trong cảnh đợi chờ quá lâu. Cảnh vật chung quanh không còn là gần gũi với nàng, ngay cả việc trang điểm cho mình.


Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ nhung đau đáu nào xong.
Cảnh buồn người thiết tha lòng,
Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun.

Sương như búa bổ mòn gốc liễu.
Tuyết nhường cưa xẻ héo cành ngô.
Giọt sương phủ bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi.

Vài tiếng dế, nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.

Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu,

Ðâu xiết kể trăm sầu nghìn não.
Từ nữ công, phụ xảo đều nguôi,
Biếng cầm kim, biếng đưa thoi,
Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa,

Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói
Sớm lại chiều, dòi dõi nương song;
Nương song luống ngẩn ngơ lòng.
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?

Biếng trang điểm lòng người sầu tủi,
Xót nỗi chàng ngoài cõi trùng quan.
Khác gì ả Chức chị Hằng,
Bến Ngân sùi sụt cung trăng chốc mòng.

Sầu ôm nặng, hãy chồng làm gối,
Mộng ôm đầy, hãy thổi làm cơm.
Mượn hoa, mượn rượu giải buồn,
Sầu làm rượu nhạt, muộn làm hoa ôi.

Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng.
Ôm đàn tranh, mấy phím rời tay;
Xót người hành dịch bấy nay,
Dặm xa thêm mỏi, trắp đầy lại vơi.

Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt,
Trống tiều khua như đốt buồng gan.
Võ vàng đổi khác dung nhan,
Khuê ly mới biết tân toan dường này.

- Phần 10:
Chinh phụ mơ thấy mình đi bên chồng khắp mọi nơi. Ðó vẫn là giấc mộng.

Nếm chua cay, tấm lòng mới tỏ.
Chua cay này há có vì ai?
Vì chàng, lệ thiếp nhỏ đôi,
Vì chàng, thân thiếp lẻ loi một bề.

Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng.
Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn,
Duy còn hồn mộng được gần,
Ðêm đêm thường đến Giang tân tìm người

Tìm chàng thuở Dương đài lối cũ.
Gặp chàng nơi Tương phố bến xưa:
Xum vầy mấy lúc tình cờ,
Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân.

Giận thiếp thân lại không bằng mộng
Ðược gần chàng bến Lũng thành Quan.
Khi mơ, những tiếc khi tàn,
Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không!

Vui có một tấm lòng chẳng dứt.
Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi!
Lòng theo nhưng chửa thấy người,
Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe

Trông bến nam, bãi che mặt nước,
Cỏ biếc um, dâu mướt màu xanh.
Nhà thôn mấy xóm chông chênh,
Một đàn cò đậu trước ghềnh chiều hôm.

Trông đường bắc, đôi chòm quán khách,
Rườm rà cây xanh ngắt núi non;
Lúa thành thoi thóp bên cồn,
Nghe thôi ngọc địch véo von bên lầu.

Non đông thấy lá hầu chất đống.
Trĩ xập xòe mai cũng bẻ bai,
Khói mù nghi ngút ngàn khơi,
Con chim bạt gió lạc loài kêu thương.

Lũng tây chẩy, nước dường uốn khúc,
Nhạn liệng không, sóng giục thuyền câu:
Ngàn thông chen chúc khóm lau,
Cách ghềnh thấp thoáng người đâu đi về.

Trông bốn bể chân trời mặt đất;
Lên, xuống lầu thấm thoắt đòi phen;
Lớp mây ngừng mắt ngại nhìn,
Biết đâu chinh chiến là miền Ngọc quan.

Gậy rút đất dễ khôn học chước,
Khăn gieo cầu nào được thấy tiên,
Lòng này hóa đá cũng nên,
E không lệ ngọc mà lên trông lầu.

-Phần 11:
Chinh phụ có khi cũng mến tiếc tuổi xuân. Sợ tuổi trẻ sẽ qua nhanh mà chồng thì chưa gặp. Không biết chàng có nhớ đến thiếp chăng?

Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu,
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong
Chẳng hay muôn dặm ruổi giong,
Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?

Lòng chàng ví cũng bằng như thế,
Lòng thiếp nàp dám nghĩ gần xa;
Hướng dương lòng thiếp như hoa,
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.

Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái,
Hoa để vàng bởi tại bóng dương;
Hoa vàng hoa rụng quanh tường,
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần?

Chồi lan nọ trước sân đã hái,
Ngọn tần kia bên bãi đưa hương.
Sửa xiêm dạo bước tiền đường,
Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẫn thờ.

Bóng Ngân hán khi mờ khi tỏ,
Ðộ Khuê triền buổi có buổi không.
Thức mây đòi lúc nhạt nồng,
Chuôi sao Bắc đẩu thôi đông lại đoài.

Mặt trăng tỏ thường soi bên gối,
Bừng mắt trông sương gội cành khô.
Lạnh lùng thay bấy nhiêu thu,
Gió mây hiu hắt trên đầu tường vôi.

Một năm một nhạt màu son phấn,
Trượng phu còn thơ thẩn miền khơi:
Xưa sao hình ảnh chẳng rời,
Bây giờ nỡ để cách vời Sâm Thương?

Chàng ruổi ngựa dặm trường mây phủ,
Thiếp dạo hài lối cũ rêu in.
Gió xuân ngày một vắng tin,
Khá thương lỡ hết mấy phen lương thì.

Xảy nhớ khi cành Diêu đóa Ngụy,
Trước gió xuân vàng tía sánh nhau;
Nọ thì ả Chức, chàng Ngâu.
Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông.

Thương một kẻ phòng không luống giữ,
Thời tiết lành lầm lỡ đòi nau;
Thoi đưa ngày tháng ruổi mau,
Người đòi thấm thoắt qua mầu xuân xanh

Xuân, thu để giận quanh ở dạ.
Hợp ly đành buồn quá khi vui.
Oán sầu nhiều nỗi tơi bời,
Vóc bồ liễu dễ ép nài chiều xuân.

Kìa Văn Quân mỹ miều thuở trước,
E đến khi đầu bạc mà thương.
Mặt hoa nọ gã Phan lang
Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng

Nghĩ nhan sắc đương chùng hoa nở,
Tiếc quang âm lần lữa gieo qua.
Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa!
Gái tơ mấy chốc hóa ra nạ dòng

Gác nguyệt nọ mơ mòng vẻ mặt,
Lầu hoa kia, phảng phất mùi hương.
Trách trời sao để nhỡ nhàng,
Thiếp rầu, thiếp lại rầu chàng chẳng quên.

-Phần 12:
Chinh phụ ước mơ mình sống có đôi, chỉ như loài chim muông cũng thấy hạnh phúc lắm rồi, mong rằng mình còn trẻ mãi và luôn gần gũi chồng.

Chàng chẳng thấy chim uyên ở nội?
Cũng dập dìu chẳng vội phân trương.
Chẳng xem chim yến trên rường,
Bạc đầu không nỡ đôi đường rẽ nhau.

Kìa loài sâu hai đầu cùng sánh,
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay.
Liễu, sen, là thức cỏ cây,
Ðôi hoa cũng sánh, đôi dây cũng liền.

Ấy loài vật tình duyên còn thế,
Sao kiếp người nỡ để đấy, đây.
Thiếp xin về kiếp sau này,
Như chim liền cánh, như cây liền cành.

Ðành muôn kiếp chữ tình đã vậy,
Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau,
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu,
Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung.

Xin làm bóng theo cùng chàng vậy.
Chàng đi đâu cũng thấy thiếp bên;
Chàng nương vừng nguyệt phỉ nguyền,
Mọi bề trung hiếu thiếp xin vẹn tròn.

-Phần 13 ( kết ):
Biết chồng đã ra đi vì dân vì nước, thì còn gì mong hơn là ngày chinh phu trở về trong khúc ca chiến thắng. Còn gì hạnh phúc hơn khi vợ chồng sum họp và sống trong vinh dự, thái bình với làng, với nước.

Lòng hứa quốc tựa son ngăn ngắt,
Sức tý dân dường sắt trơ trơ.
Máu Thuyền Vu quắc Nhục Chi,
Ấy thì bữa uống, ấy thì buổi ăn.

Mũi đồng bác đôi lần hăm hở,
Ðã lòng trời gìn giữ người trung.
Hộ chàng trăm trận nên công,
Buông tên ải bắc, treo cung non đoài.

Bóng kỳ xí giã ngoài quan ải,
Tiếng khải ca trở lại Thần kinh.
Ðỉnh non kia, đá đề danh,
Triều thiên vào trước cung đình dâng công,

Nước Ngân hán việt đồng rửa sạch,
Khúc Nhạc Từ giéo giắt lừng khen.
Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền,
Tên ghi gác Khói tượng truyền đài Lân,

Nền huân tướng đai cân rạng vẻ.
Chữ đồng hưu bia để nghìn đông.
Ơn trên ấm tử, thê phong
Phân vinh thiếp cũng đượm chung hương trời.

Thiếp chẳng dại như người Tô phụ.
Chàng hẳn không như lũ Lạc Dương.
Khi về đeo quả ấn vàng,
Trên khung cửi, dám rẫy ruồng làm cao.

Xin vì chàng xếp bào cởi giáp,
Xin vì chàng dũ lớp phong sương.
Vì chàng tay chúc chén vàng,
Vì chàng điểm phấn đeo hương não nùng.

Mở khăn lệ, chàng trông từng tấm,
Ðọc thơ sầu, chàng thấm từng câu.
Câu vui đổi lấy câu sầu.
Rượu khà cùng kể trước sau mọi lời.

Sẽ rót vơi lần lần từng chén,
Sẽ ca lần ren rén từng thiên
Liên ngâm đối ẩm đòi phen,
Cùng chàng lại kết mối duyên đến già.

Cho bõ lúc xa sầu cách nhớ,
Giữ gìn nhau vui thuở thanh bình.
Ngâm nga mong mỏi chữ tình,
Nhường này âu hẳn tài lành trượng phu.

(Sưu tầm)[RIGHT][B]Nguồn[/B]: Diendan.Eva.Vn[/RIGHT].


Kho đồ của Laolamvuon
Thông noel Bánh kem_003 Sinhtocarot Hamburger Noel_01 gối quả bí


================================================== ======

thay đổi nội dung bởi: Laolamvuon, 26-01-2010 lúc 10:11 PM .

Được cảm ơn 4138 lần tại 940 bài viết.
 
                    
Có 2 cảm ơn bài viết và gửi lời cảm ơn đến bạn Laolamvuon:
lan nguyen (27-01-2010), ngovangxonxao75 (27-01-2010)
  #5   Ban this user!
Củ 27-01-2010 , 01:42 AM
Sơ sinh

Thành viên thứ: 54440
Tham gia ngày: 10.02.2009
Bài gửi: 12
Điểm: 539
Mặc định

Sai trầm trọng rồi bạn ơi.
Sai ở nhận xét này:
"Thơ song thất lục bát (7 + 7 + 6 + 8) là một thể văn vần (thơ) đặc thù của Việt Nam, là một dạng biến thể của Lục bát kết hợp với thơ 7 chữ theo Đường luật. Tác phẩm dịch thơ Nôm Chinh Phụ Ngâm đã được viết trong thể thơ này."
Song thất lục bát là thơ Đường Luật - thơ của TQ - VN chỉ là học theo thôi.
Và học làm thơ Song thất lục bát thì cũng ko ai học theo Chinh phụ ngâm cả, phải học Lý Bach, Bạch Cư Dị .... nhiều nhà thơ Đường nổi tiếng khác của TQ chứ!

Thơ đặc thù VN phải nói là thơ Lục bát -> học Kiều của cụ Nguyễn Du[RIGHT][B]Nguồn[/B]: Diendan.Eva.Vn[/RIGHT].



Được cảm ơn 3 lần tại 3 bài viết.
 
                    
Chúng tôi muốn gửi lời cảm ơn tới vietdong02:
Laolamvuon (27-01-2010)
  #6   Ban this user!
Củ 27-01-2010 , 12:51 PM
Tập lẫy

Thành viên thứ: 101043
Tham gia ngày: 01.11.2009
Nghề nghiệp: ke toan
Bài gửi: 68
Điểm: 504
Mặc định

Trích:
Nguyên văn bởi vietdong02 Xem bài viết
Song thất lục bát là thơ Đường Luật - thơ của TQ - VN chỉ là học theo thôi.
Và học làm thơ Song thất lục bát thì cũng ko ai học theo Chinh phụ ngâm cả, phải học Lý Bach, Bạch Cư Dị .... nhiều nhà thơ Đường nổi tiếng khác của TQ chứ!
Mình nhớ hồi nhỏ có học làm thể thơ này ( hồi lớp 6) . Nếu lục bát là của VN thì mình nghĩ song thất lục bát cũng là của VN.

Còn Lý Bạch là làm thơ Đường chứ không làm thơ STLB đâu[RIGHT][B]Nguồn[/B]: Diendan.Eva.Vn[/RIGHT].


Kho đồ của Hoa Huyen
Hoa noel Hoa Mai Eva Thông noel Hoa Mai Eva

thay đổi nội dung bởi: lan nguyen, 27-01-2010 lúc 08:50 PM . Lý do: bỏ link

Được cảm ơn 30 lần tại 17 bài viết.
 
                    
Chúng tôi muốn gửi lời cảm ơn tới Hoa Huyen:
Laolamvuon (27-01-2010)
  #7   Ban this user!
Củ 27-01-2010 , 01:10 PM
Học sinh cấp 2

Thành viên thứ: 67530
Tham gia ngày: 05.05.2009
Bài gửi: 1,245
Điểm: 228
Mặc định

To: vietdong02:
Thơ đặc thù của Việt Nam là thơ Lục Bát: mình đồng ý với bạn.
Nhưng Song thất lục bát là thơ Đường luật của TQ thì sai. Thơ Đường luật (có thể hiểu là Thất ngôn bát cú) khác hẳn với Song thất lục bát đó bạn. Sự khác nhau thì Laolamvuon đã nói ở phần đầu bài rồi.[RIGHT][B]Nguồn[/B]: Diendan.Eva.Vn[/RIGHT].


Kho đồ của ngovangxonxao75
Giay_05 Hoa Mai Eva Purple 1 Purple 5 Noel_01 thu-nhoi-bong-020


Được cảm ơn 2865 lần tại 806 bài viết.
 
                    
Có 2 cảm ơn bài viết và gửi lời cảm ơn đến bạn ngovangxonxao75:
lan nguyen (27-01-2010), Laolamvuon (27-01-2010)
  #8   Ban this user!
Củ 27-01-2010 , 05:50 PM
Avatar của Laolamvuon
Học sinh cấp 2

Thành viên thứ: 99535
Tham gia ngày: 23.10.2009
Nghề nghiệp: Tưới hoa
Bài gửi: 1,017
Điểm: -7,916
Mặc định

Thơ Đường hay Đường thi (chữ Hán:唐诗) là toàn bộ thơ ca đời Đường được các nhà thơ người Trung Quốc sáng tác trong khoảng từ thế kỉ 7 - 10 (618 - 907).
Các sáng tác của hàng nghìn nhà thơ đời Đường được bảo tồn trong cuốn Toàn Đường thi gồm 48.900 bài. Đời Thanh chọn 300 bài do Hành Đường và Trần Uyển Tuấn bổ chú thành "Đường thi tam bách thủ" được phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc, Việt Nam...

Các giai đoạn

Thơ Đường có thể chia ra làm 4 giai đoạn: Sơ Đường (618 - 713), Thịnh Đường (713 - 766), Trung Đường (766 - 835), Vãn Đường (835 - 907).

Thời Sơ Đường, các nhà thơ mệnh danh là "Tứ kiệt" gồm Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương và Vương Bột đã đổi được phần nào phong khí uỷ mị của thơ các triều đại trước.
Tới Trần Tử Ngang thì có phong trào đổi mới thi ca theo tinh thần phong nhã của "Kinh thi" và "phong cốt Hán Nguỵ", chủ trương làm thơ phải có "kí thác", nghĩa là nói lên tâm tình của mình, ghi lại cảm xúc thật sự của mình trước hiện thực đời sống, bỏ hẳn thơ sắc tình đời Lục triều, và thơ ca công tụng đức, thơ ứng chế của một số nhà thơ đầu đời Đường như Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn.
Các nhà thơ sau Trần Tử Ngang làm thơ "kí thác" đều theo 2 khuynh hướng chính là trữ tình, lãng mạn, hoặc hiện thực xã hội. Ba đại biểu lớn là Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.

Màu sắc phong cách của các nhà thơ đời Đường rất khác nhau, tuỳ người sáng tác theo đạo Nho, đạo Phật hoặc theo Lão Trang.

Thơ Đường có loại thơ như sau:

thơ "biên tái" (Cao Thích, Sầm Tham sáng tác),
thơ "điền viên" (Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên sáng tác),
thơ "tân nhạc phủ" (Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn sáng tác),
thơ "chính nhạc phủ" đời Vãn Đường (Bì Nhật Hưu, Đỗ Tuấn Hạc sáng tác)
và theo khuynh hướng hiện thực (Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị sáng tác).

Các thể loại chính

Các nhà thơ sáng tác theo 3 thể chính: thơ luật Đường, thơ Cổ phongNhạc Phủ.

Những bài thơ hay nhất của Lý Bạch là thơ nhạc phủ và các bài cổ phong thích hợp với phong cách phóng túng của ông. Đỗ Phủ thì dùng thể cổ phong khi làm thơ hiện thực và dùng thể luật thi khi làm thơ trữ tình.

Về nội dung cũng như về nghệ thuật, khó tìm được những đặc điểm chung cho bấy nhiêu nhà thơ, sống ở nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau, tư tưởng sở thích cũng khác nhau. Nhưng về ngôn ngữ, thơ Đường tinh luyện, súc tích, chọn lọc, âm điệu hài hoà, đa dạng, phong phú. Các nhà thơ Đường không nói hết ý mình khi làm thơ; đó là một cách làm cho người đọc cùng tham gia với nhà thơ trong việc thưởng thức bài thơ.

Đời Đường được xem là thời đại hoàng kim của thơ ca Trung Quốc thời phong kiến. Và người nước ngoài thường chỉ biết ba nhà thơ lớn đời Đường là Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.



Cổ phong hay Cổ thể, cổ thể thi (chữ Hán: 古体诗) là một thể thơ cổ có từ nhiều thời đại trước đời nhà Đường. Về sau trở thành tên gọi chung tất cả thơ ngũ ngôn, thất ngôn mà không theo luật, gồm ngũ ngôn cổ thi, thất ngôn cổ thi, tam ngôn thi, tứ ngôn thi, lục ngôn thi..., không theo niêm luật, không hạn chế số câu, chữ như thơ Đường luật.

Thơ Cổ Phong có thể dùng một vần (độc vận) hay nhiều vần (liên vận) nhưng vần vẫn phải thích ứng với quy luật âm thanh, có nhịp bằng trắc xen nhau cho dễ đọc

(Sưu tầm)[RIGHT][B]Nguồn[/B]: Diendan.Eva.Vn[/RIGHT].


Kho đồ của Laolamvuon
Thông noel Bánh kem_003 Sinhtocarot Hamburger Noel_01 gối quả bí


================================================== ======

thay đổi nội dung bởi: Laolamvuon, 27-01-2010 lúc 06:57 PM .

Được cảm ơn 4138 lần tại 940 bài viết.
 
                    
Chúng tôi muốn gửi lời cảm ơn tới Laolamvuon:
lan nguyen (27-01-2010)
  #9   Ban this user!
Củ 27-01-2010 , 05:54 PM
Avatar của Laolamvuon
Học sinh cấp 2

Thành viên thứ: 99535
Tham gia ngày: 23.10.2009
Nghề nghiệp: Tưới hoa
Bài gửi: 1,017
Điểm: -7,916
Mặc định

Nhạc phủ (chữ Hán: 樂府) nguyên là tên gọi cơ quan âm nhạc do Hán Vũ Đế (156 tr. CN - 87) lập nên, có nhiệm vụ thu thập ca dao và thơ để phổ nhạc. Bài nào được lựa chọn thì gọi là nhạc phủ khúc, sau gọi vắn tắt là nhạc phủ. Thành thử danh từ nhạc phủ dùng để chỉ nhiều thể văn có vần, phổ vào nhạc được. Trong số này, bộ phận được chọn nhiều nhất, có giá trị nhất là dân ca, bởi vậy từ nhạc phủ còn dùng để chỉ dân ca đời Hán (206 tr.CN - 220) và Lục triều (220 - 581) ở Trung Quốc.

Nguồn gốc

Danh sĩ Lưu Hiệp (sinh mất khoảng 466-501) trong bộ Văn tâm điêu long cho biết:
Vua Hán Vũ Đế sùng lễ mới lập Nhạc phủ, (để lo việc) tổng hợp âm nhạc của nước Triệu, nước Đại; tóm tắt cái phong khí nước Tề, nước Sở...

Nghĩa là Hán Võ Đế cho thu thập tất cả thi ca trong dân gian, chỉnh đốn và sáng tác thêm, nhằm tạo thành một thể văn học mới. Mục đích chính là làm thế nào cho thi ca phối hợp được với âm nhạc, rồi lưu truyền nó.

Hán Vủ Đế phong Lý Diên Niên làm Hiệp luật đô úy, thu thập các bài ca dao, ca khúc trong dân gian, lãnh đạo việc ca xướng, phổ nhạc mới để hòa hợp với tiếng đàn sáo; lại sai Tư Mã Tương Như (179-118 tr.CN, nhà viết phú tiêu biểu đời Hán) và các bầy tôi giỏi văn học tuyển chế tân ca...

Gần đây, Dịch Quân Tả, một học giả người Trung Quốc, khen:
Thế là nền văn học bình dân phối hợp với nền văn học quý tộc. Sự kiện này có thể xem là một kỳ quan. Từ Hán đến Đường, nhạc phủ đã chi phối cả bầu trời văn học. Công việc này thực ra còn vĩ đại hơn công việc biên định thi ca của Khổng Tử nhiều lắm!

Khái quát

Buổi đầu, nhạc phủ được dùng trong trong dịp lễ tế, hoặc để ca tụng và giúp vui cho đế vương. Về sau, do nó phô diễn được ý thức, tình cảm của đủ loại giai cấp, nhất là giai cấp nông dân (vì những bài dân ca được tuyển chọn nhiều nhất); bởi thế, ngoài vai trò trên, nó còn là một thể loại sáng tác, một lối “hát xướng” được nhiều giới yêu chuộng.

Phần lớn nhạc phủ đều viết theo thể tự sự, giàu ý nghĩa xã hội; hình thức phổ biến thường là ngũ ngôn hoặc tạp ngôn (dài ngắn xen kẽ). Các bài dân ca do nhạc phủ đời Hán thu thập còn tại đến ngày nay phần lớn là tác phẩm đời Đông Hán, được giữ lại trong Nhạc phủ thi tập do Quách Mậu Tình đời Tống biên tập.

Nội dung

Dân ca nhạc phủ đời Hán, tuy không nhiều bằng Kinh thi[3]nhưng ý nghĩa xã hội lại có phần sâu sắc hơn.

Có những bài miêu tả cụ thể, chi tiết thảm họa do chiến tranh xâm lược gây ra như: Chiến thành Nam (Đánh phía Nam thành), Thập ngũ tòng quân chinh (Mười lăm tuổi theo quân đi chinh chiến)...

Có những bài thể hiện rõ rệt sự căm phẫn của dân chúng đối với ách áp bức như Bình Lăng đông (Phía Đông Bình Lăng), Đông môn hành (Bài hành cửa Đông)...

Và cũng như Kinh thi, hình tượng phụ nữ chiếm địa vị khá nổi bật trong nhạc phủ. Nhưng chỉ khác là, ở nhạc phủ không còn hình ảnh những thiếu nữ “hồn nhiên, nhí nhảnh, nghịch ngợm” như ở Kinh thi, mà đa phần chỉ có những người phụ nữ khổ đau vì nghèo đói, bệnh tật (Bệnh phụ hành - Bài hành người phụ nữ đau ốm), bị chồng bỏ (Oán ca hành - Bài hành ca oán, Hữu sở tư - Có điều suy nghĩ). Cá biệt, chỉ có ít bài tiêu biểu cho tinh thần đấu tranh của phụ nữ, như: Tần La Phu trong Mạch Thượng Tang (Dâu bên đường)...

Hình thức

Dịch Quân Tả viết:
Ở đây có một điểm cần lưu ý là tất cả thi ca của nhạc phủ đời Hán đều có thể phối hợp được với âm nhạc. Có nghĩa, từ sau khi Nhạc phủ được thành lập, những ca từ nào hợp tấu được với nhạc khí, thì gọi là nhạc phủ; còn những ca từ nào không phối hợp được thì gọi là thi. Lằn ranh giới tuyến đã được định rõ.

Về hình thức, theo Nguyễn Hiến Lê, nhạc phủ đại để có 2 loại:

Loại chịu ảnh hưởng của Sở từ (phương Nam) câu thường có 7 chữ, dùng chữ “hề” để đưa đẩy. Loại này là gốc lối thơ thất ngôn.
Loại chịu ảnh hưởng của Kinh thi (phương Bắc) câu thường có 5 chữ. Loại này là gốc lối thơ ngũ ngôn.


Nhận xét chung, ông viết: Lời trong nhạc phủ không đẽo gọt như phú, nhưng miêu tả rất rõ ràng, ý chân thành, dễ cảm người nghe.

Theo Nhạc phủ thi tập của Quách Mậu Thiến, thì nhạc phủ có 3 nhóm chính:

Nhạc phủ cung đình

Phần lớn ca khúc đều mô phỏng theo Kinh thi hoặc Sở từ. bao gồm những nhạc chương dùng để tế thiên địa, tông miếu hoặc dành để ca tụng đế vương, chia làm:
Giao miếu ca, có:
Miếu từ ca: có 4 loại, gồm: Tông miếu nhạc, Chiêu dung nhạc, Lễ dung nhạc, Phòng trung từ nhạc.
Giao tự ca: về kỷ thuật sáng tác, nó cao hơn Miếu từ ca một bậc.
Yến xạ ca: có 3 loại, gồm: Yến Hưởng nhạc, Đại xạ nhạc, Thực cử nhạc; dùng để tấu xướng lúc nhà vua hưởng yến tiệc.
Vũ khúc: có 3 loại, gồm: Nhã vũ, Tạp vũ, Tản nhạc. Riêng Tản nhạc là loại ca vũ của phường hát. Nó chính là giai đoạn phôi thai của lối nhạc sân khấu về sau này.

Nhạc phủ dân gian

Các ca khúc đều thuộc loại tạp ngôn. Lúc đầu nhiều nhất là tam ngôn về sau ngũ ngôn dần chiếm ưu thế. Loại này rất phổ biến và chia làm rất nhiều nhóm, như: Tương hòa ca từ, Tập khúc ca từ v.v...

Nhận xét tổng quát thể loại này, Nguyễn Hiến Lê viết:
Bài nào cũng tự nhiên, tình nồng nàn, phần nhiều đượm vẻ buồn, có giọng than thở cho đời người ngắn ngủi, nhân tình éo le, cảnh ngộ trắc trở, lòng người đen bạc.

Nhạc phủ ngoại lai

Không có nghĩa là những ca từ do người nước ngoài sáng tác, hoặc chịu ảnh hưởng; mà chỉ là mượn những nhạc khí được du nhập từ những dân tộc miền Bắc như đoản tiêu và hồ già để hòa tấu.

Tác phẩm vài bài nhạc phủ tiêu biểu:

Khổng tước đông nam phi (Khổng tước bay về miền đông nam) dài 357 câu ngũ ngôn, được truyền tụng nhất, được các học giả Trung quốc nhận công nhận là tiểu thuyết bằng thơ của họ.

Mạch thượng tang (hay Diễm ca La Phu hành) dài 53 câu ngũ ngôn.



(Sưu tầm)[RIGHT][B]Nguồn[/B]: Diendan.Eva.Vn[/RIGHT].


Kho đồ của Laolamvuon
Thông noel Bánh kem_003 Sinhtocarot Hamburger Noel_01 gối quả bí


================================================== ======

thay đổi nội dung bởi: Laolamvuon, 27-01-2010 lúc 07:02 PM .

Được cảm ơn 4138 lần tại 940 bài viết.
 
                    
Chúng tôi muốn gửi lời cảm ơn tới Laolamvuon:
lan nguyen (27-01-2010)
  #10   Ban this user!
Củ 27-01-2010 , 05:57 PM
Avatar của Laolamvuon
Học sinh cấp 2

Thành viên thứ: 99535
Tham gia ngày: 23.10.2009
Nghề nghiệp: Tưới hoa
Bài gửi: 1,017
Điểm: -7,916
Mặc định

Thơ Đường luật hay Thơ luật Đường là thể thơ Đường cách luật xuất hiện từ đời nhà Đường (Tang), Trung Quốc. Thơ Đường luật gọi là thơ cận thể để đối lập với thơ cổ thể, không theo cách luật ấy.

Vì giáo dục, thi cử... đều bằng tiếng Hán, nên từ lâu người Việt Nam đã sáng tác thơ văn bằng tiếng Hán, trong đó có thơ theo luật Đường.

Nguyễn Thuyên là người đầu tiên đưa tiếng Việt vào thơ văn, đặt ra thể thơ Hàn luật, là sự kết hợp thơ Đường luật với các thể thơ dân tộc Việt.

Thể loại thơ này của Việt Nam kéo dài từ thời nhà Trần cho đến nửa đầu thế kỷ 20. Kể từ phong trào Thơ Mới trở đi, số người trong nước làm luật thi đã bị giảm đi đáng kể.

Bố cục một bài thơ Thất ngôn bát cú Đường luật gồm 4 phần: Đề, thực, Luận, Kết. -"Đề" gồm 2 câu đầu,câu đầu goị là câu phá đề, câu thứ 2 gọi là câu thừa đề, chuyển tiếp ý để đí vào phần sau. -"Thực" gồm 2 câu tiếp theo, giải thích ró ý đầu bài. -"Luận" gồm 2 câu tiếp theo nữa, phát triển rộng ý của đầu bài. -"Kết" là 2 câu cuối, kết thúc ý toàn bài.

Thơ Đường luật nghiêm khắc ở 3 chỗ: Luật, Niêm và Vần. Về hình thức, thơ Đường luật có các dạng "thất ngôn bát cú" (tám câu, mỗi câu bảy chữ) được xem là dạng chuẩn, biến thể có các dạng: "thất ngôn tứ tuyệt" (bốn câu, mỗi câu bảy chữ), "ngũ ngôn tứ tuyệt" (bốn câu, mỗi câu năm chữ), "ngũ ngôn bát cú" (tám câu, mỗi câu năm chữ) cũng như các dạng ít phổ biến khác. Người Việt Nam cũng tuân thủ hoàn toàn các quy tắc này.

Luật thơ Đường căn cứ trên thanh bằng và thanh trắc, và dùng các chữ thứ 2-4-6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật. Thanh bằng gồm các chữ có dấu huyền hay không dấu; thanh trắc gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng.

Luật bằng trắc

Nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có "luật bằng"; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi là bài có "luật trắc". Trong một câu, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải giống nhau về thanh điệu, và chữ thứ 4 phải khác hai chữ kia. Ví dụ, nếu chữ thứ 2 và 6 là thanh bằng thì chữ thứ 4 phải dùng thanh trắc, hay ngược lại. Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy định này thì được gọi "thất luật".

Ví dụ: xét câu "Bước tới đèo Ngang bóng xế tà" trong bài Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan, có các chữ "tới" (thứ 2) và "xế" (thứ 6) giống nhau vì đều là thanh trắc còn chữ "Ngang" là thanh bằng thì đó là bài thất ngôn bát cú luật trắc.

Luật bằng trắc trong thể Thất ngôn tứ tuyệt và Thất ngôn bát cú có thể nôm na liệt kê như sau, nếu chỉ vần bằng bằng chữ "B", vần trắc bằng chứ "T", những vần không có luật để trống, thì luật trong các chữ thứ 2-4-6-7 có thể viết là:

1. Luật vần bằng

Ví dụ: Mời trầu1 của Hồ Xuân Hương

x B x T x B B => Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
x T x B x T B => Này của Xuân Hương mới quệt rồi
x T x B x T T => Có phải duyên nhau thì thắm lại
x B x T x B B => Đừng xanh như lá, bạc như vôi
1 2 3 4 5 6 7

Ví dụ: Thương vợ1 của Trần Tế Xương

x B x T x B B => Quanh năm buôn bán ở mom sông
x T x B x T B => Nuôi đủ năm con với một chồng
x T x B x T T => Lặn lội thân cò khi quãng vắng
x B x T x B B => Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
x B x T x B T => Một duyên hai nợ âu đành phận
x T x B x T B => Năm nắng mười mưa dám quản công.
x T x B x T T => Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!
x B x T x B B => Có chồng hờ hững cũng như không!
1 2 3 4 5 6 7

2. Luật vần trắc

Ví dụ: Phong Kiều dạ bạc (楓橋夜泊)
của Trương Kế (张继 Zhang Jì) Phiên âm Hán-Việt

x T x B x T B => 月落烏啼霜滿天 Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
x B x T x B B => 江楓魚火對愁眠 Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
x B x T x B T => 姑蘇城外寒山寺 Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
x T x B x T B => 夜半鐘聲到客船 Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
1 2 3 4 5 6 7

Bản dịch tiếng Việt của Tản Đà (chuyển thể thành lục bát):

Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều
Trăng tà chiếc quạ kêu sương
Lửa chài cây bãi sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Ví dụ: Nhớ bạn phương trời1 của Trần Tế Xương

x T x B x T B => Ta nhớ người xa cách núi sông
x B x T x B B => Người xa, xa lắm nhớ ta không
x B x T x B T => Sao đương vui vẻ ra buồn bã!
x T x B x T B => Vừa mới quen nhau đã lạ lùng
x T x B x T T => Lúc nhớ, nhớ cùng trong mộng tưởng
x B x T x B B => Khi riêng, riêng cả đến tình chung
x B x T x B T => Tương tư lọ phải là trai gái,
x T x B x T B => Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng
1 2 3 4 5 6 7


Luật đối

Nguyên tắc cố định của một bài thơ Đường là ý nghĩa của hai câu 3 và 4 phải "đối" nhau và hai câu 5, 6 cũng "đối" nhau. Đối thường được hiểu là sự tương phản (về nghĩa kể cả từ đơn, từ ghép, từ láy) nhưng bao gồm cả sự tương đương trong cách dùng các từ ngữ. Nếu một bài thơ Đường mà các câu 3, 4 không đối nhau, các câu 5, 6 không đối nhau thì được gọi "thất đối".

Ví dụ: hai câu 3, 4 trong bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà,2

"Lom khom" đối với "lác đác" (hình thể và số lượng - thực ra hai câu này chưa phải đối hoàn chỉnh), "dưới núi" đối với "bên sông" (vị trí địa hình), song nếu nối hình ảnh hai câu trên "lom khom dưới núi" và "lác đác bên sông" thì vì một câu diễn tả về cảnh động, còn một câu diễn tả về cảnh tĩnh, nên sự đối lập có thể chấp nhận được. Một điểm nên chú ý là cách dùng từ láy âm "lom khom" chỉ dáng người của câu trên, và "lác đác" chỉ số lượng của câu dưới. Hai vế tiếp: "tiều vài chú" đối với "chợ mấy nhà" (đối lập về số lượng và tĩnh/động). Sự đối lập của hai vế cuối có thể coi là hoàn chỉnh. Xin xem thêm về thơ đối hoặc Câu đối Việt Nam để hiểu thêm về luật đối trong thơ.

Niêm

Các câu trong một bài thơ Đường giống nhau về luật thì được gọi là "những câu niêm với nhau" (niêm = giữ cứng, ở đây được hiểu là giữ giống nhau về luật). Hai câu thơ niêm với nhau khi nào chữ thứ nhì của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc, thành ra bằng niêm với bằng, trắc niêm với trắc. Ở những câu theo nguyên tắc là cần phải niêm, nếu tác giả sơ xuất mà làm thành không niêm thì bài đó bị gọi là "thất niêm".

Nguyên tắc niêm trong một bài thơ Đường chuẩn (thất ngôn bát cú) như sau:

câu 1 niêm với câu 8
câu 2 niêm với câu 3
câu 4 niêm với câu 5
câu 6 niêm với câu 7

Chẳng hạn với luật vần bằng:

- B - T - B B
- T - B - T B
- T - B - T T
- B - T - B B
- B - T - B T
- T - B - T B
- T - B - T T
- B - T - B B

Ví dụ: Xét trong bài thơ Qua đèo Ngang, hai câu thứ 2 và thứ 3:

Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú

Vần

Vần là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ. Trong một bài thơ Đường chuẩn, vần được dùng tại cuối các câu 1, 2, 4, 6 và 8. Những câu này được gọi là "vần với nhau". Nếu một bài thơ Đường mà chữ cuối của một trong các câu này không giống nhau về vần thì được gọi "thất vận".

Những chữ có vần giống nhau hoàn toàn gọi là "vần chính", những chữ có vần gần giống nhau gọi là "vần thông". Hầu hết thơ Đường dùng vần thanh bằng, nhưng cũng có các ngoại lệ.

Ví dụ: hai câu 1, 2 trong bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:

Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

hai chữ "tà" và "hoa" được xem là vần với nhau, nhưng ở đây là "vần thông" vì chỉ phát âm gần giống nhau.


(sưu tầm)[RIGHT][B]Nguồn[/B]: Diendan.Eva.Vn[/RIGHT].


Kho đồ của Laolamvuon
Thông noel Bánh kem_003 Sinhtocarot Hamburger Noel_01 gối quả bí


================================================== ======

thay đổi nội dung bởi: Laolamvuon, 27-01-2010 lúc 07:18 PM .

Được cảm ơn 4138 lần tại 940 bài viết.
 
                    
Có 3 cảm ơn bài viết và gửi lời cảm ơn đến bạn Laolamvuon:
drlehieu (21-02-2010), lan nguyen (27-01-2010), SiNguyen (27-01-2010)
Trả lời Gởi Ðề Tài Mới
Trở lại   Diễn đàn Eva, kinh nghiệm hay cho phụ nữ > Đời sống > Thế giới giải trí > CLB Yêu Thơ
Xem Thống Kê Mới Chinh Phụ Ngâm và tìm hiểu thể thơ Song Thất Lục Bát
Nhận diện thương hiệu
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài
Quuyền Hạn Của Bạn
Bạn được quyền gửi bài
Bạn được quyền gửi trả lời
Bạn được quyền gửi kèm file
Bạn được quyền sửa bài
vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Trackbacks are Mở
Pingbacks are Mở
Refbacks are Mở
Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 12:09 PM.

Powered by: vBulletin v3.7.1 Copyright ©2000-2014, Jelsoft Enterprises Ltd.
Content Relevant URLs by vBSEO 3.5.0 RC3 ©2010, Crawlability, Inc.
vBCredits v1.4 Copyright ©2007 - 2008, PixelFX Studios